Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết của Hạ Thi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết của Hạ Thi. Hiển thị tất cả bài đăng
17 thg 10, 2009
Chuyện về Bão
Trời lại mưa. Mấy hôm rồi cứ sáng lên mạng lướt báo điện tử lại thấy tin bão. Tối về mở TV xem tin tức, dự báo thời tiết cũng lại thấy bão. Đồng bào miền Trung không năm nào là không hứng chịu những cơn bão vô tình, vô tâm. Bão ngoài đó thổi vào tận trong này, lạnh buốt đáy lòng...
Tôi nhớ đứa bạn ngoài Huế. Cũng dân lao động nghèo, nhà có cái nghề làm chả truyền thống trong vùng ai cũng biết tiếng. Vậy mà mấy năm rồi bão vần vũ, cứ thổi bay cái nóc này lại gầy cái nóc khác, vài bận không chịu thấu cả nhà lục tục kéo nhau ra Nam trú nhờ. Nhớ lại mấy câu chuyện nó kể, tôi thấy thương! Không khác cảnh trên TV là mấy, khác chăng đây đúng là cảm xúc người thiệt việc thiệt trăm phần trăm không thông qua xướng ngôn viên! … “ Ôi nói làm chi ba cái bão có chi mô mà lạ? Có khi tui đang học bài, bão thổi qua cái vèo nghe rầm rầm trên mái, rồi nghe …mát rượi, bay vèo cái nóc! Lát sau lụt dâng lên, đầu tiên tui ngồi trên ghế, sau đổi cái ghế cao hơn, hết ghế đổi tui đổi tới tư thế, ngồi chồm hổm, rồi đứng cũng không còn chỗ cao mô mà đứng tới. Rồi lát nước rút, đó chỉ là mưa to, ngập lụt thôi. Bão thì nguy hơn nhiều…” Nghe nó kể về thiên tai mà cứ như …cơm bữa! Rồi một bận 2 đứa đang học bài, nhà nó bật TV, thấy đài đưa tin bão về ngay thị trấn Bảo Lộc, trường cũ cấp 2 nó sập, 1 thầy giáo chết. Nó bưng mặt khóc! Nhà nó kéo ra Nam lập nghiệp cũng vì tránh bão, nhưng tránh được nhà nó, còn hàng vạn ngôi nhà, mái ấm khác, trong đó có thầy cô, bạn bè… Hôm sau, nó lẳng lặng lên lớp xin quần áo cũ của mấy đứa khá khá, gửi ra quê.
Lại mùa bão đang về, bữa nay dạo blog thấy có mấy bài thơ hay của tác giả miền Nam chạnh lòng trước bão, tôi đọc còn thấy xót xót… Buồn, mở rado nghe, không ngờ lại bắt gặp một câu chuyện về bão. Giọng cô phát thanh viên ngọt ngào mà bữa nay trong câu chuyện này có vẻ trầm lắng… “Bỗng một giọng teen bên cạnh bàn tôi ngồi vụt nói như hét: í í, lỡ bữa đó mưa thì sao tụi bây? - Ờ há, hổng được à nghen, đi picnic mà mưa là toi đó! – Dzậy giờ sao biết được mà tránh đây trời? – Thì vô google search thử coi chứ sao! – search cái gì đây? – Thì thử đi, “bão”!” – Chời ơi, hổng có gì để biết hết chơn, toàn ba cái tin bão lụt chết chóc gì đâu không hà…” Nghe tới đó tôi bỗng tắt phụt cái radô, không biết câu chuyện này tác giả tận tai nghe nghĩ sao, chứ riêng tôi thấy …lạnh. Hình như bão lại ra tận trong Nam mình thì phải! Teen bây giờ laptop di động kiểu gì cũng không thiếu, chỉ thiếu chút suy tư. Chắc phải chờ trải nghiệm, mà gì chứ bão lụt, mấy ai muốn trãi nghiệm bao giờ? Không biết các teen trong câu chuyện kia có muốn k???
13 thg 10, 2009
Con – Huyền thoại nơi tim má vô biên!
Viết về mẹ, dẫu ngàn lời đã có
Con vẫn thèm gọi nhỏ:“má”… trong thơ!
Con đã lớn, nhưng chưa khôn! Mãi mãi chưa khôn khi còn vấp ngã, mãi mãi vấp ngã, khi còn đi trên đường đời. Con nhất định không lo âu, vì đường đời luôn có má!
Câu hỏi con thích nhất là hỏi “em giống ai”? Câu trả lời con tự hào nhất là trả lời “em giống má”! Giống cái nét duyên thầm dù không xinh đẹp bằng người, giống cái cười nhẹ nhàng, giống ánh nhìn tinh tế…con muốn giống tất thảy, và con đang làm tất thảy để giống má của con.
Con nhớ ngày má thay ba chắt chiu, gom góp để xây cái nhà nhỏ xíu, lợp lá. Cái nhà thiệt là xinh, mùa hè mát rượi, mùa đông…rét căm! Rét lắm, những đêm má tội nghiệp 2 chị em con nằm ngoài, má sợ gió lùa cửa trước ra cửa sau, má nằm với tụi con, rồi thức…
Con nhớ những mùa củ sắn rợp đồng xanh ngắt, má bỏ con lọt thỏm vào trạc sau, chở như chở sắn, ngút ngắt cười, con nhìn má đạp còng lưng thon… Má nhổ sắn đem cân, con khoái chí nhặt mấy củ con con bỏ vào túi áo rồi lém lỉnh liếc dòm bà chủ ruộng, bà cười hiền xua tay bảo không sao! Con toan chạy lon ton trên tấm thảm xanh ngút ngàn, má níu áo lấy lại bảo “củ chưa cân!”, rồi khẽ véo tai con, má bỏ lại vào túi mấy chùm sắn cân rồi. Con phụng phịu “hơ…chưa cân mới thích!”, má răn nhìn, con le lưỡi chạy đi…
Con nhớ những ông trăng tròn khuyết bao mùa vén mây dòm xuống khoảng sân sau nhà mình, thấy chỗ cây ổi chín thơm nức có luống rau ba vun, thấy má, chị hai, và con kéo ống quần qua khỏi gối, hì hụt đạp lên chỗ bao sắn ngâm trong thau. Con ngửa mặt dòm ông trăng cười khanh khách, má nhẹ nhàng biểu “từ từ con, dập sắn hết trơn nè…”
Con nhớ những đêm giông, bão về đầy hiên, rét tận đáy lòng…giấc người ta đang say, má con rời chiếc chăn ngồi dậy. Má chuẩn bị lấy hàng lên Sài Gòn cho kịp sáng. Con ngủ ngon lành, ừ, mới 1h khuya! Chiếc trạc tròng trành sau yên xe, má đạp qua rét mướt, má đi vào cơn giông…
Con tốt nghiệp cấp 3, nhớ lại hồi nhỏ xíu lớp 3, bỗng giật mình! Không có má, ngày đó con bỏ học vì mặc cảm nhà nghèo. Không có má, ngày đó con bị bạn bè xa lánh, thầy giáo chê học dốt, không thương. Không có má, ngày đó con không thể học giỏi nhất trường… Má nâng con lên khỏi lần quỵ đầu tiên đó, má nhắc cho con nhớ con đã học giỏi thế nào, má đánh thức dậy trong con những năng khiếu bẩm sinh từ truyền thống gia đình…Con nhận ra mình biết hát, biết múa, biết thích sinh hoạt Đội TNTP. Từ đó, má theo con trên mỗi bậc thềm thử sức. Con hát trên sân khấu thiệt to, khán giả thiệt đông mà nhìn xuống con chẳng thấy được ai, chỉ thấy mỗi mình má đang cười hiền vỗ tay, mắt má lóng lánh.
Con xa nhà lên BH trọ học, 3 năm xứ người với đủ bon chen, thử sức, con xông xáo cống hiến hết nhiệt tình sức trẻ. Mỗi bằng khen từ phong trào Đoàn con đem về nhà lại đổi lấy một ánh nhìn sâu thẳm tin yêu của má. Nhà mình đầy bằng khen, cậu đem treo lĩnh nghĩnh. Dù chả đáng là bao nhưng mỗi khi nhà mình đón khách má vẫn tự hào: “con gái út tôi!”
Con nhận được công tác sau 1 tuần tốt nghiệp cử nhân, má nở nụ cười mãn nguyện. Má gặp lại bên nhà nội con bằng cái nhìn thẳng, sáng trong, tự hào. Con má 2 đứa nên người! Má ơi, dù con vẫn đang đi chập chững, lần dò nhưng sẽ thuỷ chung với con đường chọn lựa.
Giờ đây, mỗi trưa trưa, lúc người ta ngủ, má con nằm lặng im bên chiếc ghế dài bật rado nghe con gái nói chuyện. Chuyện đông chuyện tây, cái chuyện chi má cũng nghe hết, miễn là chuyện từ chiếc radô! Một việc tưởng quá đỗi bình thường với bất kì ai đó, nhưng với má con lại là giây phút vui trọn vẹn, tin yêu muôn trùng! Gió trưa nồng luồn qua cửa sau vỗ về bên ngực má, khe khẽ hát…
Con gái má vẫn xuôi ngược nơi mảnh đất BH đầy rộng lượng, vẫn bình thường như bao đứa con gái đồng hương. Nhưng sâu thẳm nơi trái tim má vô biên, con gái đẹp giữa cuộc đời như một huyền thoại trong mơ!
Hoa Hạ
16h ngày 13.10.09
8 thg 10, 2009
Hương thủ đô
Chiều thu tháng 10, ngồi lặng im bên không gian cũ nơi quán cf quen, hút tầm mắt giữa mênh mang dòng nước sông Đồng Nai, tôi lắng lòng nghe cô ca sĩ bảo khẽ: “Ở thành phố hoa Mai, nhớ thành phố hoa Đòa…” dìu dặt lời tự sự, giọng ca bỗng chảy tràn trong tôi khoảng kí ức chưa lâu, kí ức về một phố Hà Nội ngây ngất nắng, ngây ngất gió đêm bên hồ Hoàn Kiếm. Đưa tay với ly cf, dòng nước đăng đắng tan nơi đầu môi, mát lạnh; tôi trở về với một đêm Hà Nội giữa tháng tám, trời thu…
…Gió trong lành đùa rặng liễu xanh non, vờn nghịch mấy sợi tóc tôi, bay bay… Hồ Tây là đây! Tôi vẫn thường nghe những câu chuyện về Hà Nội 36 phố phường trong thơ, trong văn, trong nhạc. Tôi vẫn quen những người bạn Hà Nội gốc. Tôi vẫn hát “Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa…” Tôi vẫn biết Hà Nội có Hồ Tây. Vậy mà đêm nay, cảm thấy Hà Nội còn có “hương thủ đô”, điều tôi chưa từng hình dung! Hương thủ đô vương vất trong làn gió đêm mơn man bên hồ, mang theo hình ảnh những con đường êm ả chạy; những hàng cây ướp mùi sương đêm lành lạnh, dịu ngọt; những góc chợ với giọng rao đậm chất Bắc…mang theo hình dáng sừng sững uy nghiêm của cột cờ Lăng Bác, và mang theo hình Bác trong lăng, im lặng, mỉm cười…
Gió đêm nhè nhẹ, đằm thắm mà gửi gắm bao điều! Hương thủ đô mang hình dáng Việt, sóng sánh trong làn nước trong veo nơi ao cá Bác Hồ, dìu dịu lắng vào cơn gió thanh thanh quẩn quanh cây vú sữa dưới chân nhà sàn; đậm đà trong ly cà phê quán cốc nơi hồ Tây; ẩn mình trong tiếng rao hàng cô thiếu nữ chợ Đồng Xuân… Lần đầu tiên, tôi được sờ vào cái không gian cô đọng những xúc cảm của đêm. Lần đầu tiên, đứa con gái Miền Nam cảm được cái mùi hương không đâu thay thế: hương thủ đô đằm thắm, vững bền!
Tôi đi dạo lang thang trên bờ Hồ Hoàn Kiếm, thấy tháp rùa đêm tỏa sáng, đẹp lung linh. Câu hát từ lâu ngủ vùi trong kí ức chợt bừng tỉnh, ngân nga… “ nhớ tiếng dương cầm thoảng đêm gió bấc, nhớ tháp Rùa ngàn năm, vẫn trẻ cùng tuổi xanh…” Bước chân lạc dài trên con phố im lìm, lắng đọng hơi thở ngàn năm Thăng Long; nghe văng vẳng bên bờ hồ tiếng thì thầm của đôi lứa say trăng, say thơ; thấy cô hàng nước giấu ánh nhìn làm duyên với du khách; nhìn du khách, tôi khẽ mỉm cười… Hà nội ơi!
Dừng chân nơi quán cốc bên bờ Hồ Tây, con đường Thanh Niên tấp nập sao không hề ồn ã? Để cho nhánh liễu tự do bông đùa với mái tóc mềm sương đêm, tôi chọn chiếc bàn sát bờ nước, thấy sao trời dập dềnh kì ảo trên mặt hồ loang loáng sắc màu.
Anh phục vụ thật dễ thương, nụ cười hiền trong bộ áo trắng tinh, cất giọng con trai xứ Bắc mời khách dùng nước. Tôi nhẹ nhàng xin một ly trà đá, giật mình với cái chất giọng gái miền Nam đặc sệt vị quê hương. Anh phục vụ mỉm cười: “Thưa cô, ở đây không có trà đá, chỉ có lọc đá thôi…” Tôi tròn xoe mắt ngỡ ngàng, rồi khẽ gật đầu: “Cho em xin một cốc lọc đá!”
Anh phục vụ thật dễ thương, nụ cười hiền trong bộ áo trắng tinh, cất giọng con trai xứ Bắc mời khách dùng nước. Tôi nhẹ nhàng xin một ly trà đá, giật mình với cái chất giọng gái miền Nam đặc sệt vị quê hương. Anh phục vụ mỉm cười: “Thưa cô, ở đây không có trà đá, chỉ có lọc đá thôi…” Tôi tròn xoe mắt ngỡ ngàng, rồi khẽ gật đầu: “Cho em xin một cốc lọc đá!”
Có anh nhà văn nói với tôi rằng: “Mọi thứ sẽ chuyển đổi về cả lượng và chất, thứ duy nhất còn trường tồn là Văn hóa.” Tôi mỉm cười uống cốc lọc đá mát lạnh, trong lành. Gió Hồ Tây mơn man thổi. Hà Nội là đây, đẹp vững bền!
30 thg 9, 2009
Trung thu
Trung thu…
Anh đón em ở cổng kí túc xá. Anh mong ngóng, em vội vội vàng vàng thay bộ áo đẹp. Ba ngày đầu tiên của đời sinh viên đã bắt đầu trôi qua mà sao em nghe không hề bỡ ngỡ, bơ vơ. Chắc tại có anh đứng chờ! Anh chở em vào con đường ngoằn nghoèo lạ hoắc, con đường khu phố 13 với lớp lớp dãy dãy là những ngôi nhà cổng cao tường kín… Em ngây ngô nghĩ thầm: “Thành phố là đây…” Anh bảo với đôi mắt tròn xoe đang quan sát của em: “Khu phố anh ở, nhà anh bên kia…” Em nhìn theo rồi nghĩ xa xăm.
Anh nhìn em phụ gói những món quà, quan sát em cười, nựng nịu mấy đứa trẻ, rồi anh cũng cười, vu vơ. Em không biết. Còn lạ. Vậy mà lâu lâu ánh mắt em cũng đi rong kiếm tìm…
Anh bắt cô giáo dạy nhạc tương lai phải hát tặng các em thiếu nhi nơi nhà mở của anh. Em hát, vỗ tay, bày trò. Mắt em lấp lánh phản chiếu những ánh mắt ngây ngô, những nụ cười trong veo không tròn trịa vì khiếm khuyết của cơ thể, những lời khen ê a thốt ra chưa thành lời đầy đủ, những ước ao, khát khao non nớt… Em say sưa hát, lời hát vút lên khoảng trời đầy hoa mộng. Anh say sưa nhìn em, cười! Em tự tay trao từng chiếc đèn trung thu, nâng niu như trao gửi từng niềm tin yêu, hy vọng… Anh lại cười!
Anh chở em đi dài trên sông Đồng Nai, cầu Ghềnh ngày ấy chưa muôn màu, sao vẫn đẹp lung linh. Anh kể hết những chuyện ngày xưa và ngày nay, kể muôn vàn điều chẳng liên quan đến em gì cả, mà sao vẫn chăm chú lắng nghe, chăm chú nhìn… Anh có đôi mắt thật lạ, ẩn chứa, biết nói.
Đêm trung thu đầu tiên thời sinh viên, đêm trung thu đầu tiên xa nhà, đêm trung thu đầu tiên, em có anh!
****
Trung thu….
Anh đón em ở cổng kí túc xá.
Em lại cùng anh tất bật chuẩn bị những món quà, chuẩn bị ghế bàn, âm thanh ánh sáng… Em lại múa hát, những ca khúc thiếu nhi trong trẻo cứ vang lên… “gọi ánh trăng lên vui đêm trung thu…”, “chị Hằng sáng trong, lung linh giữa đêm rằm…”. Giọng ca em buồn chỉ hát toàn nhạc Trịnh, sao cứ đến mùa trung thu là lại trở nên trong vắt, xanh ngát lạ lùng. Không biết tự bao giờ, em đã trở thành “ca sĩ” bất đắc dĩ kiêm luôn “bầu sô”, nhưng ừ thì…chỉ để phục vụ “cây nhà lá vườn” cho bà con phố phường nơi anh mà thôi! Ừ, em sẽ làm, vẫn làm…tất cả, riêng anh!
***
Trung thu…
Em lại chuẩn bị những món quà nho nhỏ, giọng bắt đầu lại vút lên những ca từ dễ thương cho đêm trăng tuổi thơ…Nhưng nghe hình như tiếng hát đang lạc lõng, chơi vơi. Cũng quà bánh, cũng trẻ thơ với đầy ắp tiếng cười, ánh nến lung linh… Mắt em kiếm tìm, giật mình đau khi chạm phải một không gian lạ lẫm. Không gian không có anh! Anh đã thôi không còn đứng đón em nơi cổng kí túc xá.
Gió sông Đồng Nai đêm nay thật lạ, cứ mênh mông trôi vào vô tận! Đâu là bến dừng?…
***
Lại một mùa trung thu nữa đang về…
Em trở lại dòng sông Đồng Nai, thả trôi hết những suy tư. Thấy mặt nước mông lung, xa lắc…dòng sông của ngày nào anh kể chuyện đêm trăng. Dòng dông ngày nào đã cất giữ tiếng thì thầm: “Em yêu ạ, gió chiều nay thổi chậm. Anh vội vàng đón đôi lá vàng rơi…” Thả trôi hết, chỉ giữ lại 1 ngọn nến mong manh trong lòng. Mong manh, nhưng không bao giờ tắt…
Cầu Ghềnh đêm nay đã lung linh muôn màu…
Hoa Hạ
12h10p, 28/09/09
29 thg 9, 2009
Nghe Trần Tiến kể chuyện
Tôi thích nghe nhạc Trần Tiến, vì âm nhạc của ông là “cảm giác sống”. Cảm giác sống đó chuyển tải thành mạch cảm xúc bất tận, cứ tự nhiên tuôn tràn và bay lên khỏi những suy tư đời thực, khỏi những vướng bận bởi mục đích sáng tác để vút cao thành một giai điệu. Vì lẽ đó, nhạc của ông mang hơi thở thời đại, nhưng đậm chất dân tộc; mang một chút ngông nghệ sĩ, chút lãng du, nhưng không bừa bãi, cẩu thả mà vô cùng độc đáo và đầy tính nhân văn. Lần đầu nghe “Mưa bay tháp cổ”, tôi không hiểu mấy, thấy phong cách nhạc hơi lập dị mà nghe “chướng chướng”, không cảm nổi. Nhưng càng nghe càng thấm, đúng là những cảm nhận đã thăng hoa thành giai điệu. Quen mà lạ, lạ nhưng vẫn là chất Việt, tâm hồn Việt.
Sự trong trẻo, dung dị của âm nhạc Trần Tiến là xuất phát từ cái chân thực trong cảm xúc và sự am hiểu sắc thái âm nhạc dân tộc. Trong trẻo ở giai điệu tươi mát, trẻ trung. Dung dị ở ca từ, chất liệu âm nhạc. Nghe “Bình nguyên xa vắng”, tôi cảm nhận bức tranh bình nguyên xanh sống động, mượt mà. Đó chính là chất thực và bình dị mà độc đáo của cõi âm nhạc Trần Tiến. Giai điệu không chút gò bó, nhiều tiết nhịp được lặp đi lặp lại, là thể hiện chân thực nguồn cảm xúc đang chảy, chứ không phải là “nặn” ra, vẽ nên, hay cố gắng hoàn thành. “Gió núi hoang vu về, nước suối mênh mang tràn, hoa Quỳ trong nắng vàng. Lãng đãng sương giăng hồn, mái tóc hương đêm buồn. Quê nhà tôi thương nhớ…”. Vẫn với phong thái tự nhiên, nhẹ nhàng, ca từ tuôn ra như dòng suối nơi bình nguyên xanh trong kí ức tác giả; giai điệu êm ái, văng vẳng dịu dàng như vọng về từ sâu thẳm một miền kí ức nào đó, ngọt ngào, đẹp đẽ mà tha thiết xa vắng. Âm nhạc Trần Tiến dung dị, giản đơn không bởi vì ông thích sáng tác nên những ca khúc đơn giản, mà xuất phát chính từ quan niệm sống của chính tác giả, “âm nhạc là cuộc sống”, mà “sống là để yêu thương!”.
Một buổi chiều thênh thang gió và lòng đầy ắp những dư vị không ngọt ngào của 1 ngày ồn ào, tôi trốn vào một góc nhỏ ngồi bật máy lên, nghe “Trần Tiến kể chuyện”. Những câu chuyện trầm mặc mang hơi thở của cuộc đời…Chuyện một phố núi nghèo êm ả lãng đãng sương giăng, lãng đãng buồn. “…Thung lũng buồn, trong mờ sương, nhà tôi chênh vênh trên đèo mây. Phố núi nghèo, như bàn tay. Nhà bên kia vẫy nhà bên này…” Buồn mà không bi ai, buồn trôi đi, hiền hòa song hành với những cuộc đời nơi “Phố núi”. Buồn không thống thiết, buồn chỉ như một điều ngẫu nhiên trong đời, day dứt, man mác, vương vất… Ông kể tiếp câu chuyện “Chị tôi”, cũng cái nhịp nhàng, đều dặn trôi đi mà giai điệu hoà vào ca từ xâu chuỗi thành một câu chuyện dài cả đời người. Không một lần diễn tả nỗi buồn, vậy mà nó cứ nhân lên dần ở cái cách lặp đi lặp lại một giai điệu, nghe như kiểu người say cứ ê a hoài một điệp khúc, vậy mà mỗi lần ê a lại là một trang đời được lật sang, nhẹ nhàng mà nghe đau đáu … Và chuyện về một đêm chơi vơi, nhạc sĩ tự họa bằng cây đàn ghita và những miền kí ức xa xôi, chắp vá, với những mảng màu rời rạc… “…Một màu xanh xanh, chấm thêm vàng vàng. Một màu xanh chấm thêm vàng cánh đồng hoang vu. Một màu nâu nâu, một màu tím tím, màu nâu tím mắt em tôi ôi đẹp dịu dàng…” Lần này còn ngông hơn, câu chuyện thậm chí không có lời dẫn, không có nội dung tròn trịa; Tưởng như chỉ là tái hiện của những mảng kí ức không tên gọi, nhưng rồi ở cuối câu chuyện, lời lí giải cho tất cả những tùy hứng bên trên là một cái giật mình đầy trắc ẩn. “Một đêm nhớ, nhớ…nhớ ra: mình một mình! Một đêm nhớ, nhớ ra… mình đã ở đâu đây? Một đêm trong đêm thâu! Làm sao vẽ bóng tối? Làm sao vẽ cánh hoa đêm…không màu?...” Nếu như có đứa con tinh thần nào của Trần Tiến gói gọn đầy đủ nét nhạc của ông: sự ngẫu hứng từ đời thực, đưa dòng giai điệu ngân lên từ những câu chữ rất đỗi đời thường; sự giản đơn làm nên độc đáo; câu chữ giản dị mà đầy trắc ẩn… thì, đó chính là “Sắc màu”.
Nghe xong những câu chuyện Trần Tiến kể, tôi giật mình nhìn đâu cũng thấy giai điệu!
Sự trong trẻo, dung dị của âm nhạc Trần Tiến là xuất phát từ cái chân thực trong cảm xúc và sự am hiểu sắc thái âm nhạc dân tộc. Trong trẻo ở giai điệu tươi mát, trẻ trung. Dung dị ở ca từ, chất liệu âm nhạc. Nghe “Bình nguyên xa vắng”, tôi cảm nhận bức tranh bình nguyên xanh sống động, mượt mà. Đó chính là chất thực và bình dị mà độc đáo của cõi âm nhạc Trần Tiến. Giai điệu không chút gò bó, nhiều tiết nhịp được lặp đi lặp lại, là thể hiện chân thực nguồn cảm xúc đang chảy, chứ không phải là “nặn” ra, vẽ nên, hay cố gắng hoàn thành. “Gió núi hoang vu về, nước suối mênh mang tràn, hoa Quỳ trong nắng vàng. Lãng đãng sương giăng hồn, mái tóc hương đêm buồn. Quê nhà tôi thương nhớ…”. Vẫn với phong thái tự nhiên, nhẹ nhàng, ca từ tuôn ra như dòng suối nơi bình nguyên xanh trong kí ức tác giả; giai điệu êm ái, văng vẳng dịu dàng như vọng về từ sâu thẳm một miền kí ức nào đó, ngọt ngào, đẹp đẽ mà tha thiết xa vắng. Âm nhạc Trần Tiến dung dị, giản đơn không bởi vì ông thích sáng tác nên những ca khúc đơn giản, mà xuất phát chính từ quan niệm sống của chính tác giả, “âm nhạc là cuộc sống”, mà “sống là để yêu thương!”.
Một buổi chiều thênh thang gió và lòng đầy ắp những dư vị không ngọt ngào của 1 ngày ồn ào, tôi trốn vào một góc nhỏ ngồi bật máy lên, nghe “Trần Tiến kể chuyện”. Những câu chuyện trầm mặc mang hơi thở của cuộc đời…Chuyện một phố núi nghèo êm ả lãng đãng sương giăng, lãng đãng buồn. “…Thung lũng buồn, trong mờ sương, nhà tôi chênh vênh trên đèo mây. Phố núi nghèo, như bàn tay. Nhà bên kia vẫy nhà bên này…” Buồn mà không bi ai, buồn trôi đi, hiền hòa song hành với những cuộc đời nơi “Phố núi”. Buồn không thống thiết, buồn chỉ như một điều ngẫu nhiên trong đời, day dứt, man mác, vương vất… Ông kể tiếp câu chuyện “Chị tôi”, cũng cái nhịp nhàng, đều dặn trôi đi mà giai điệu hoà vào ca từ xâu chuỗi thành một câu chuyện dài cả đời người. Không một lần diễn tả nỗi buồn, vậy mà nó cứ nhân lên dần ở cái cách lặp đi lặp lại một giai điệu, nghe như kiểu người say cứ ê a hoài một điệp khúc, vậy mà mỗi lần ê a lại là một trang đời được lật sang, nhẹ nhàng mà nghe đau đáu … Và chuyện về một đêm chơi vơi, nhạc sĩ tự họa bằng cây đàn ghita và những miền kí ức xa xôi, chắp vá, với những mảng màu rời rạc… “…Một màu xanh xanh, chấm thêm vàng vàng. Một màu xanh chấm thêm vàng cánh đồng hoang vu. Một màu nâu nâu, một màu tím tím, màu nâu tím mắt em tôi ôi đẹp dịu dàng…” Lần này còn ngông hơn, câu chuyện thậm chí không có lời dẫn, không có nội dung tròn trịa; Tưởng như chỉ là tái hiện của những mảng kí ức không tên gọi, nhưng rồi ở cuối câu chuyện, lời lí giải cho tất cả những tùy hứng bên trên là một cái giật mình đầy trắc ẩn. “Một đêm nhớ, nhớ…nhớ ra: mình một mình! Một đêm nhớ, nhớ ra… mình đã ở đâu đây? Một đêm trong đêm thâu! Làm sao vẽ bóng tối? Làm sao vẽ cánh hoa đêm…không màu?...” Nếu như có đứa con tinh thần nào của Trần Tiến gói gọn đầy đủ nét nhạc của ông: sự ngẫu hứng từ đời thực, đưa dòng giai điệu ngân lên từ những câu chữ rất đỗi đời thường; sự giản đơn làm nên độc đáo; câu chữ giản dị mà đầy trắc ẩn… thì, đó chính là “Sắc màu”.
Nghe xong những câu chuyện Trần Tiến kể, tôi giật mình nhìn đâu cũng thấy giai điệu!
28 thg 9, 2009
Văn hoá xe buýt
Từ lâu xe buýt đã là một phương tiện lưu thông quen thuộc, dễ đi vì phí thấp. Càng ngày ra đường chúng ta càng nhìn thấy nhiều hơn những chiếc xe màu xanh lá cây, màu đặc trưng của “họ nhà buýt” cùng những con số tuyến. Tiện lợi, dễ đón, dễ đi, nhưng tính ra cũng lắm nhiêu khê, vì phải có trạm dừng hợp lí và đầy đủ, phải canh làm sao chạy cho đúng giờ tuyến quy định, kiểm soát bằng vé… Những điều này thì đã được bàn khá nhiều, hôm nay tôi chỉ đề cập đến vài hệ quả không đáng có của những nhiêu khê trên.
Hôm đó trời nóng gay gắt, nắng hè cao điểm! Phụ nữ ra đường giờ này thì phải “bao bọc” khá cẩn thận, hầu như chỉ còn nhìn thấy…đôi mắt. Bữa đó, tôi có việc gấp phải về Gia Kiệm, mà không tìm đâu ra xe máy. Thế là bắt xe buýt. Lên xe khoảng 10p thì thấy bên đường, một cô gái trẻ khá yểu điệu, dáng người cao ráo với đôi cao gót thanh mãnh, nhưng cũng không tránh khỏi ngoại lệ “kín toàn thân”! Giơ tay bắt xe, trông cô thật đáng yêu dù chỉ nhìn thấy đôi mắt.
Cái khổ là ở đây không có trạm dừng. Tài xế khắc phục bằng cách tấp thật lẹ vào lề với tốc độ ớn lạnh, chiếc xe uốn mình cái vèo tấp sát vào cô gái, bánh chưa dừng đã dượm tăng tốc tiếp cùng câu cửa miệng eo éo của anh lơ trong chiếc áo xanh đồng phục: “Lẹ lẹ em ơi, trời ơi leo lên…Nhanh!
” Chắc nghĩ lời nói chưa đủ tác dụng nên anh lơ chìa luôn cánh tay lực lưỡng, 1 đằng tóm lấy cái giỏ xách xinh xắn sạch sẽ, đằng kia kéo mạnh khổ chủ của nó đẩy vào trong xe. Tôi lập tức liên tưởng đến việc tóm gọn một chú cá đang còn quẫy đuôi nhét vào trong chiếc hộp và đậy nắp lại. Tội nghiệp cô gái, luống cuống với đôi giày cao gót, bước lên thì ngại tốc độ xe và sợ đạp nhầm bàn chân anh lơ to tổ chảng đang áng ngữ hết hai phần ba bậc leo của xe buýt; nhưng chần chừ thì lại sợ bàn tay thô bạo của anh lơ kéo mạnh, nhắm mắt “bang đại”, cô chui tọt vào xe bằng cách luồn qua không gian hẹp bên dưới cánh tay (có lẽ đầy “hương”) của anh lơ(!) Ngay lập tức cửa xe đóng lại. Chiếc buýt chồng chành nhồi tới nhồi lui, cô gái giơ tay tóm vội cái gì đó khả dĩ có thể bám được, khổ nỗi lại vớ ngay cánh tay một “anh chàng”, ngước lên nhìn, cô thấy “anh chàng”…đáng tuổi bố đang ho khằng khặc(!!!) Quá bức xúc, mặt đỏ gay (tôi tưởng tượng vì chỉ nhìn thấy ánh mắt “hình viên đạn”) cô lột phăng chiếc khẩu trang thở hào hển, lắp bắp: “Cái anh này, cũng phải để xe dừng tui mới leo lên được…” “…dừng cái gì em ơi hổng có trạm phải chạy cho lẹ chứ!”.
Cô gái toan hả mồm cãi tiếp thì phải ngậm lại ngay vì ba bảy hai mốt thứ mùi đang xộc lên. Xe chật kín, không còn chỗ bám tay chứ đừng nghĩ đến chuyện đặt mông. Chưa đứng yên nổi trên hai bàn chân của chính mình thì một cô áo xanh đồng phục lại lù lù đi tới, chìa ra một xấp vé dày cộm chuẩn bị xé: “Tới đâu?” “Nàng” hỏi cộc lốc, cô gái lí nhí: “Dốc mơ”.
Rồi cô không biết cách gì lấy tiền mua vé! Một tay xách giỏ, một tay bám chặt vào “anh chàng” đáng tuổi bố để chống lại cơn nhồi của chiếc buýt đang lách vèo vèo vì tay lái lụa của bác tài. Cuối cùng, dưới sự đốc thúc bằng ánh mắt kém kiên nhẫn của “nàng” thu vé, cô gái tựa hẳn vào người đàn ông, nhăn mặt nín thở để mở giỏ lấy tiền. Mồ hôi nhễ nhại, bộ đồ đi nắng kín mít bao tay bao chân, nhìn cô …tơi tả, hết “đáng yêu” như lúc còn đứng bên lề đường bắt xe.
Tôi đứng lên định nhường ghế cho cô ngồi thở một chút, nhưng ngay lập tức cô nở lại nụ cười rất tươi và bảo: “Thôi chị ngồi đi, chị lên trước mà…”. Ừ nhỉ, người lên sau không nên dành chỗ ngồi với người lên trước, người trẻ phải người chỗ cho người già, ai ho phải che miệng quay mặt chỗ khác, nói chuyện nhỏ nhẹ, văn minh, xe đón khách phải dừng hẳn lại…
Đó mới là văn hóa xe buýt chứ? Chắc chiếc xe này còn trẻ người non dạ chưa được học bài vỡ lòng trước khi ra đời hành nghề “buýt chuyên nghiệp”!!!
Hôm đó trời nóng gay gắt, nắng hè cao điểm! Phụ nữ ra đường giờ này thì phải “bao bọc” khá cẩn thận, hầu như chỉ còn nhìn thấy…đôi mắt. Bữa đó, tôi có việc gấp phải về Gia Kiệm, mà không tìm đâu ra xe máy. Thế là bắt xe buýt. Lên xe khoảng 10p thì thấy bên đường, một cô gái trẻ khá yểu điệu, dáng người cao ráo với đôi cao gót thanh mãnh, nhưng cũng không tránh khỏi ngoại lệ “kín toàn thân”! Giơ tay bắt xe, trông cô thật đáng yêu dù chỉ nhìn thấy đôi mắt.
Cái khổ là ở đây không có trạm dừng. Tài xế khắc phục bằng cách tấp thật lẹ vào lề với tốc độ ớn lạnh, chiếc xe uốn mình cái vèo tấp sát vào cô gái, bánh chưa dừng đã dượm tăng tốc tiếp cùng câu cửa miệng eo éo của anh lơ trong chiếc áo xanh đồng phục: “Lẹ lẹ em ơi, trời ơi leo lên…Nhanh!
” Chắc nghĩ lời nói chưa đủ tác dụng nên anh lơ chìa luôn cánh tay lực lưỡng, 1 đằng tóm lấy cái giỏ xách xinh xắn sạch sẽ, đằng kia kéo mạnh khổ chủ của nó đẩy vào trong xe. Tôi lập tức liên tưởng đến việc tóm gọn một chú cá đang còn quẫy đuôi nhét vào trong chiếc hộp và đậy nắp lại. Tội nghiệp cô gái, luống cuống với đôi giày cao gót, bước lên thì ngại tốc độ xe và sợ đạp nhầm bàn chân anh lơ to tổ chảng đang áng ngữ hết hai phần ba bậc leo của xe buýt; nhưng chần chừ thì lại sợ bàn tay thô bạo của anh lơ kéo mạnh, nhắm mắt “bang đại”, cô chui tọt vào xe bằng cách luồn qua không gian hẹp bên dưới cánh tay (có lẽ đầy “hương”) của anh lơ(!) Ngay lập tức cửa xe đóng lại. Chiếc buýt chồng chành nhồi tới nhồi lui, cô gái giơ tay tóm vội cái gì đó khả dĩ có thể bám được, khổ nỗi lại vớ ngay cánh tay một “anh chàng”, ngước lên nhìn, cô thấy “anh chàng”…đáng tuổi bố đang ho khằng khặc(!!!) Quá bức xúc, mặt đỏ gay (tôi tưởng tượng vì chỉ nhìn thấy ánh mắt “hình viên đạn”) cô lột phăng chiếc khẩu trang thở hào hển, lắp bắp: “Cái anh này, cũng phải để xe dừng tui mới leo lên được…” “…dừng cái gì em ơi hổng có trạm phải chạy cho lẹ chứ!”.
Cô gái toan hả mồm cãi tiếp thì phải ngậm lại ngay vì ba bảy hai mốt thứ mùi đang xộc lên. Xe chật kín, không còn chỗ bám tay chứ đừng nghĩ đến chuyện đặt mông. Chưa đứng yên nổi trên hai bàn chân của chính mình thì một cô áo xanh đồng phục lại lù lù đi tới, chìa ra một xấp vé dày cộm chuẩn bị xé: “Tới đâu?” “Nàng” hỏi cộc lốc, cô gái lí nhí: “Dốc mơ”.
Rồi cô không biết cách gì lấy tiền mua vé! Một tay xách giỏ, một tay bám chặt vào “anh chàng” đáng tuổi bố để chống lại cơn nhồi của chiếc buýt đang lách vèo vèo vì tay lái lụa của bác tài. Cuối cùng, dưới sự đốc thúc bằng ánh mắt kém kiên nhẫn của “nàng” thu vé, cô gái tựa hẳn vào người đàn ông, nhăn mặt nín thở để mở giỏ lấy tiền. Mồ hôi nhễ nhại, bộ đồ đi nắng kín mít bao tay bao chân, nhìn cô …tơi tả, hết “đáng yêu” như lúc còn đứng bên lề đường bắt xe.
Tôi đứng lên định nhường ghế cho cô ngồi thở một chút, nhưng ngay lập tức cô nở lại nụ cười rất tươi và bảo: “Thôi chị ngồi đi, chị lên trước mà…”. Ừ nhỉ, người lên sau không nên dành chỗ ngồi với người lên trước, người trẻ phải người chỗ cho người già, ai ho phải che miệng quay mặt chỗ khác, nói chuyện nhỏ nhẹ, văn minh, xe đón khách phải dừng hẳn lại…
Đó mới là văn hóa xe buýt chứ? Chắc chiếc xe này còn trẻ người non dạ chưa được học bài vỡ lòng trước khi ra đời hành nghề “buýt chuyên nghiệp”!!!
22 thg 9, 2009
Nỗi buồn một người mẹ…
(Nhớ X với những gì tuyệt vời nhất!)
Hoàn thành xong ba năm học với chương trình rèn luyện khá dày và thiết thực, tôi và một số bạn cùng lớp phấn khởi chuẩn bị cho buổi nhận bằng tốt nghiệp bằng sự háo hức lẫn một niềm tự hào lâng lâng… Náo nức ra đi từ 7h sáng, mãi đến 4h chiều, tôi cầm tấm bằng “cử nhân sư phạm” bâng khuâng rời khỏi trường với những suy nghĩ miên man. Trong ấy, khá rõ là hình ảnh một người mẹ…
Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú, bà không ngần ngại bất cứ công việc nặng nhọc nào, miễn sao các con được đi học, được nên người. Bà quan niệm: “Không cần biết Đại học, Cao đẳng, hay Trung cấp, miễn là cố gắng có được 1 tấm bằng, 1 cái nghề, và làm sao cho thật giỏi cái chuyên môn của mình, vậy là có thể sống được!” Với mong muốn đó, bà lần lượt tiễn từng đứa con, đứa vào Đại học, đứa Trung cấp, đứa Cao đẳng… Con học chữ, mẹ lên rẫy mà từng bước dõi theo mỗi trang vở, mỗi thành tích của con. Con gái út của bà là 1 cô bạn cùng lớp với tôi, học ở mẹ tính cần cù chịu khó, đồng thời biết rằng chỉ có cái sự học mới đưa mình thoát khỏi cái nghèo cái khổ, 3 năm trọ học xứ người cô bạn của tôi đã dành hết thời gian tâm huyết cho việc học và công tác rèn luyện kĩ năng ngoài giờ học…
Kết thúc 3 năm, cô bạn tôi ra trường với tấm bằng tuy không xuất sắc nhưng thành quả tốt đẹp nhất là sự quý mến, tín nhiệm và lòng tin yêu của thầy cô, bạn bè. Tự hào với những điều con gái đã gặt hái được, ngày nhận bằng cử nhân của chúng tôi, bà đã bỏ 1 ngày ruộng rẫy để khăn gói theo con đi chuyến xe đò lên Biên Hòa. Nhận điện thoại chúc mừng của bà con xa gần, lòng bà lâng lâng nghĩ đến giây phút được tận mắt nhìn thấy con mặc áo cử nhân, nhận bằng tốt nghiệp!
Trường chúng tôi mỗi năm gần 1000 Sv tốt nghiệp, nhưng mấy ai được 1 niềm tự hào đẹp đẽ từ một bà mẹ vùng cao như thế? Với sự hân hoan trong lòng, bà còn dự định sẽ xin gặp riêng thầy Hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm của con để nói lời cảm ơn chân thành…
Thế nhưng, vừa bước vào đến cửa hội trường lớn nơi con gái sẽ nhận bằng tốt nghiệp, 1 cánh tay không mấy nhẹ nhàng lôi tuột bà ra ngoài, cùng cái gầm gừ thô bạo.
Không một lời nói nhưng cử chỉ lạnh lùng của chú bảo vệ trường tôi bảo rằng: “Đây không có chỗ cho bà!” Tôi ngạc nhiên kêu vội vàng được mấy tiếng: “Chú ơi, Bác đó phụ huynh của…” chưa dứt câu cánh cửa đã đóng sầm lại một cách kiêu ngạo! Tôi thắc mắc không hiểu do sáng mùa hè oi bức hay hội trường đông người mà bỗng nghe mặt nóng bừng bừng. Bà mẹ nhìn tôi qua ô kính, bối rối xua tay cho lũ trẻ yên lòng vào ghế ngồi rồi lặng lẽ quay đi. Nhìn theo tôi thấy trong mắt bà có chút gì hụt hẫng, lòng bỗng trào lên nỗi xót xa…
Ba năm học với đầy nhiệt huyết, quyết tâm, ra trường với đầy lòng tự hào, lũ chúng tôi đang sẵn sàng tiếp bước thầy cô trên con đường đã chọn. Vậy mà ngày nhận bằng cử nhân sư phạm lại vương vấn chút nuối tiếc đến chạnh lòng.
“Bác không tủi thân vì bị đuổi ra ngoài ngồi gốc cây, cũng không trách trường không có chỗ cho những bà mẹ quê như bác, chỉ tiếc chưa được tận mắt nhìn thấy con bé đứng trên bục vinh dự. Và, cũng còn 1 chút nghĩ ngợi: môi trường sư phạm con bé học 3 năm… là đây sao?” Bà mẹ tâm sự.
Chúng tôi tiễn 2 mẹ con bà về lại với vùng quê nghèo Tân Phú cùng những lời chúc tốt lành. Nhìn bóng mẹ trùm lên bóng con mà đau đáu suy tư: Phải chăng, 2 chữ “Sư phạm” chỉ gói gọn trong cách cư xử giữa thầy và trò, giữa những “sinh viên sư phạm” với nhau, giữa những giáo viên trẻ chúng tôi với học trò của mình…?
Thế còn những nhân viên không được gọi là “thầy”, nhưng sống và phục vụ cho môi trường giáo dục, ăn lương của ngành giáo dục, thì 2 chữ “sư phạm” đi đâu rồi???
Hoàn thành xong ba năm học với chương trình rèn luyện khá dày và thiết thực, tôi và một số bạn cùng lớp phấn khởi chuẩn bị cho buổi nhận bằng tốt nghiệp bằng sự háo hức lẫn một niềm tự hào lâng lâng… Náo nức ra đi từ 7h sáng, mãi đến 4h chiều, tôi cầm tấm bằng “cử nhân sư phạm” bâng khuâng rời khỏi trường với những suy nghĩ miên man. Trong ấy, khá rõ là hình ảnh một người mẹ…
Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú, bà không ngần ngại bất cứ công việc nặng nhọc nào, miễn sao các con được đi học, được nên người. Bà quan niệm: “Không cần biết Đại học, Cao đẳng, hay Trung cấp, miễn là cố gắng có được 1 tấm bằng, 1 cái nghề, và làm sao cho thật giỏi cái chuyên môn của mình, vậy là có thể sống được!” Với mong muốn đó, bà lần lượt tiễn từng đứa con, đứa vào Đại học, đứa Trung cấp, đứa Cao đẳng… Con học chữ, mẹ lên rẫy mà từng bước dõi theo mỗi trang vở, mỗi thành tích của con. Con gái út của bà là 1 cô bạn cùng lớp với tôi, học ở mẹ tính cần cù chịu khó, đồng thời biết rằng chỉ có cái sự học mới đưa mình thoát khỏi cái nghèo cái khổ, 3 năm trọ học xứ người cô bạn của tôi đã dành hết thời gian tâm huyết cho việc học và công tác rèn luyện kĩ năng ngoài giờ học…
Kết thúc 3 năm, cô bạn tôi ra trường với tấm bằng tuy không xuất sắc nhưng thành quả tốt đẹp nhất là sự quý mến, tín nhiệm và lòng tin yêu của thầy cô, bạn bè. Tự hào với những điều con gái đã gặt hái được, ngày nhận bằng cử nhân của chúng tôi, bà đã bỏ 1 ngày ruộng rẫy để khăn gói theo con đi chuyến xe đò lên Biên Hòa. Nhận điện thoại chúc mừng của bà con xa gần, lòng bà lâng lâng nghĩ đến giây phút được tận mắt nhìn thấy con mặc áo cử nhân, nhận bằng tốt nghiệp!
Trường chúng tôi mỗi năm gần 1000 Sv tốt nghiệp, nhưng mấy ai được 1 niềm tự hào đẹp đẽ từ một bà mẹ vùng cao như thế? Với sự hân hoan trong lòng, bà còn dự định sẽ xin gặp riêng thầy Hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm của con để nói lời cảm ơn chân thành…
Thế nhưng, vừa bước vào đến cửa hội trường lớn nơi con gái sẽ nhận bằng tốt nghiệp, 1 cánh tay không mấy nhẹ nhàng lôi tuột bà ra ngoài, cùng cái gầm gừ thô bạo.
Không một lời nói nhưng cử chỉ lạnh lùng của chú bảo vệ trường tôi bảo rằng: “Đây không có chỗ cho bà!” Tôi ngạc nhiên kêu vội vàng được mấy tiếng: “Chú ơi, Bác đó phụ huynh của…” chưa dứt câu cánh cửa đã đóng sầm lại một cách kiêu ngạo! Tôi thắc mắc không hiểu do sáng mùa hè oi bức hay hội trường đông người mà bỗng nghe mặt nóng bừng bừng. Bà mẹ nhìn tôi qua ô kính, bối rối xua tay cho lũ trẻ yên lòng vào ghế ngồi rồi lặng lẽ quay đi. Nhìn theo tôi thấy trong mắt bà có chút gì hụt hẫng, lòng bỗng trào lên nỗi xót xa…
Ba năm học với đầy nhiệt huyết, quyết tâm, ra trường với đầy lòng tự hào, lũ chúng tôi đang sẵn sàng tiếp bước thầy cô trên con đường đã chọn. Vậy mà ngày nhận bằng cử nhân sư phạm lại vương vấn chút nuối tiếc đến chạnh lòng.
“Bác không tủi thân vì bị đuổi ra ngoài ngồi gốc cây, cũng không trách trường không có chỗ cho những bà mẹ quê như bác, chỉ tiếc chưa được tận mắt nhìn thấy con bé đứng trên bục vinh dự. Và, cũng còn 1 chút nghĩ ngợi: môi trường sư phạm con bé học 3 năm… là đây sao?” Bà mẹ tâm sự.
Chúng tôi tiễn 2 mẹ con bà về lại với vùng quê nghèo Tân Phú cùng những lời chúc tốt lành. Nhìn bóng mẹ trùm lên bóng con mà đau đáu suy tư: Phải chăng, 2 chữ “Sư phạm” chỉ gói gọn trong cách cư xử giữa thầy và trò, giữa những “sinh viên sư phạm” với nhau, giữa những giáo viên trẻ chúng tôi với học trò của mình…?
Thế còn những nhân viên không được gọi là “thầy”, nhưng sống và phục vụ cho môi trường giáo dục, ăn lương của ngành giáo dục, thì 2 chữ “sư phạm” đi đâu rồi???
Nỗi lòng người mẹ...
Hoàn thành ba năm học với chương trình rèn luyện khá dày và thiết thực, tôi và bạn bè cùng lớp chuẩn bị cho buổi nhận bằng tốt nghiệp với sự háo hức pha lẫn niềm tự hào lâng lâng... Nhưng một chuyện nhỏ bên lề lễ trao bằng tốt nghiệp khiến tôi không khỏi băn khoăn, suy nghĩ: Chuyện liên quan đến mẹ của một người bạn.
Sống ở một xã vùng sâu, vùng xa, mẹ của bạn tôi không ngần ngại bất cứ công việc nặng nhọc nào, miễn sao các con được đi học, được nên người. Không phụ lòng mẹ, các con của bà lần lượt vào trung cấp, cao đẳng, đại học.
Con học chữ, mẹ lên rẫy mà từng bước bà vẫn dõi theo trang vở, thành tích của con. Con gái út của bà, là bạn cùng lớp với tôi, học ở mẹ tính cần cù chịu khó, đồng thời biết rằng chỉ có học mới đưa mình thoát khỏi nghèo khổ. 3 năm trọ học ở xa, cô bạn của tôi đã dành thời gian cho việc học, cũng như rèn luyện kỹ năng ngoài giờ học...
Kết thúc 3 năm, cô bạn tôi ra trường với tấm bằng tuy không xuất sắc nhưng thành quả tốt đẹp nhất chính là sự quý mến, tín nhiệm và lòng tin yêu của thầy cô, bạn bè. Tự hào với những điều con gái gặt hái được, ngày nhận bằng cử nhân của chúng tôi, bà đã bỏ ngày làm rẫy để khăn gói lên thành phố. Nhận điện thoại chúc mừng của bà con xa gần, lòng bà lâng lâng nghĩ đến giây phút được tận mắt nhìn thấy con mặc áo cử nhân, nhận bằng tốt nghiệp! Trường chúng tôi mỗi năm có gần 1.000 sinh viên tốt nghiệp, nhưng mấy ai được một niềm tự hào đẹp đẽ từ một bà mẹ vùng cao như thế? Với sự hân hoan trong lòng, bà còn dự định sẽ xin gặp riêng thầy hiệu trưởng và giáo viên chủ nhiệm của con để nói lời cảm ơn chân thành...
Thế nhưng, vừa bước vào đến cửa hội trường lớn, nơi con gái của bà lát nữa sẽ nhận bằng tốt nghiệp, một cánh tay không mấy nhẹ nhàng đã bất ngờ lôi tuột bà ra ngoài, cùng tiếng gầm gừ khó chịu. Không một lời nói, nhưng cử chỉ lạnh lùng của người bảo vệ của trường tôi như bảo rằng: "Đây không có chỗ cho bà!". Tôi ngạc nhiên vội thốt lên mấy tiếng: "Chú ơi, bác đó là phụ huynh của... ". Nhưng chưa dứt câu, cánh cửa hội trường đã đóng sầm lại!
Bà nhìn chúng tôi qua ô cửa kính, xua tay cho lũ trẻ yên lòng vào ghế ngồi, rồi lặng lẽ quay đi. Nhìn theo, tôi thấy trong mắt bà như có chút gì hụt hẫng. Trong lòng tôi trào lên nỗi xót xa...
"Bác không tủi thân vì bị đuổi ra ngồi ngoài gốc cây, cũng không trách trường không có chỗ cho những bà mẹ quê như bác, chỉ tiếc chưa được tận mắt nhìn thấy con bé đứng trên bục vinh dự nhận bằng. Và, cũng còn một chút nghĩ ngợi, băn khoăn: môi trường con bé học 3 năm là vậy sao?" - sau buổi lễ, mẹ của bạn tôi nói thế.
Hoa Hạ
Bài đã đăng trên báo Đồng Nai ngày 22-9-2009.
http://www.baodongnai.com.vn/default.aspx?tabid=586&idmid=1&ItemID=44911
Sống ở một xã vùng sâu, vùng xa, mẹ của bạn tôi không ngần ngại bất cứ công việc nặng nhọc nào, miễn sao các con được đi học, được nên người. Không phụ lòng mẹ, các con của bà lần lượt vào trung cấp, cao đẳng, đại học.
Con học chữ, mẹ lên rẫy mà từng bước bà vẫn dõi theo trang vở, thành tích của con. Con gái út của bà, là bạn cùng lớp với tôi, học ở mẹ tính cần cù chịu khó, đồng thời biết rằng chỉ có học mới đưa mình thoát khỏi nghèo khổ. 3 năm trọ học ở xa, cô bạn của tôi đã dành thời gian cho việc học, cũng như rèn luyện kỹ năng ngoài giờ học...
Kết thúc 3 năm, cô bạn tôi ra trường với tấm bằng tuy không xuất sắc nhưng thành quả tốt đẹp nhất chính là sự quý mến, tín nhiệm và lòng tin yêu của thầy cô, bạn bè. Tự hào với những điều con gái gặt hái được, ngày nhận bằng cử nhân của chúng tôi, bà đã bỏ ngày làm rẫy để khăn gói lên thành phố. Nhận điện thoại chúc mừng của bà con xa gần, lòng bà lâng lâng nghĩ đến giây phút được tận mắt nhìn thấy con mặc áo cử nhân, nhận bằng tốt nghiệp! Trường chúng tôi mỗi năm có gần 1.000 sinh viên tốt nghiệp, nhưng mấy ai được một niềm tự hào đẹp đẽ từ một bà mẹ vùng cao như thế? Với sự hân hoan trong lòng, bà còn dự định sẽ xin gặp riêng thầy hiệu trưởng và giáo viên chủ nhiệm của con để nói lời cảm ơn chân thành...
Thế nhưng, vừa bước vào đến cửa hội trường lớn, nơi con gái của bà lát nữa sẽ nhận bằng tốt nghiệp, một cánh tay không mấy nhẹ nhàng đã bất ngờ lôi tuột bà ra ngoài, cùng tiếng gầm gừ khó chịu. Không một lời nói, nhưng cử chỉ lạnh lùng của người bảo vệ của trường tôi như bảo rằng: "Đây không có chỗ cho bà!". Tôi ngạc nhiên vội thốt lên mấy tiếng: "Chú ơi, bác đó là phụ huynh của... ". Nhưng chưa dứt câu, cánh cửa hội trường đã đóng sầm lại!
Bà nhìn chúng tôi qua ô cửa kính, xua tay cho lũ trẻ yên lòng vào ghế ngồi, rồi lặng lẽ quay đi. Nhìn theo, tôi thấy trong mắt bà như có chút gì hụt hẫng. Trong lòng tôi trào lên nỗi xót xa...
"Bác không tủi thân vì bị đuổi ra ngồi ngoài gốc cây, cũng không trách trường không có chỗ cho những bà mẹ quê như bác, chỉ tiếc chưa được tận mắt nhìn thấy con bé đứng trên bục vinh dự nhận bằng. Và, cũng còn một chút nghĩ ngợi, băn khoăn: môi trường con bé học 3 năm là vậy sao?" - sau buổi lễ, mẹ của bạn tôi nói thế.
Hoa Hạ
Bài đã đăng trên báo Đồng Nai ngày 22-9-2009.
http://www.baodongnai.com.vn/default.aspx?tabid=586&idmid=1&ItemID=44911
21 thg 9, 2009
Con về thăm Bác
Tôi kể chuyện Bác Hồ, thuyết trình về “Những lời Bác dạy Thanh niên”, đạt được những giải thưởng coi như đáng kể, tưởng đã gọi là “có chút kiến thức”, đã hiểu, đã cảm, đã thương Bác, kính Bác thật tấm lòng, đâu ngờ những cảm xúc đó xem ra còn rất hời hợt, sách vở khi giờ đây so sánh với những gì đang tràn ngập trong lòng tôi, sau chuyến xuyên Việt “Theo chân Bác” vừa qua. Cái cảm giác đầu tiên là tận hưởng niềm vui của sự may mắn đem lại, may mắn vì được một chuyến đi giá trị mà ít người có được, may mắn vì chuyến học tập mà cũng là “du lịch” về những miền đất nước thương yêu mà tôi chưa từng đặt chân, may mắn vì tôi đang cần một chuyến đi... Khi đến điểm đầu tiên, niềm vui đó trở thành sự háo hức phập phồng trong lồng ngực như muốn bung ra ngoài, tôi say mê với chiếc máy ảnh, bấm tất cả những góc độ mà tôi cho là “giá trị”, ghi âm tất cả những lời hướng dẫn viên nói, tranh thủ tạo dáng mấy kiểu để có cái “khoe” với người ở nhà những nơi đã được đặt chân... Nhưng, tất cả những niềm vui, háo hức đó hóa ra chỉ là những cảm xúc tầm thường khi trái tim tôi bắt đầu đón nhận những cảm xúc mới, thật hơn tất cả những cảm xúc tôi đã từng trải qua: nỗi thương và nhớ Bác Hồ! Mảnh đất này đây, bạn ơi, Bác đã từng đứng, nói chuyện, học hành, suy tư về vận mệnh nước nhà, chiếc ghế dài này đây, chiếc bảng đen này đây, và kia bộ trường kỉ người thầy giáo trẻ đã bắt đầu những bài dạy. Khi nhận ra cái cảm xúc thật thiêng liêng ấy, tôi tưởng mình không còn là cô gái năng động, với cách nhìn sự việc cứng rắn, như thực tế thường có, bởi giờ đây, cổ họng tôi cứ hay bị nghẹn nghẹn, mắt tôi cứ chực rơi rớt những giọt lệ xót xót dưới vành mi...vậy là, tôi không dám khóc, vì sợ tiếng giả tạo, vì sợ không thực với lòng mình! Lúc đó, đứng trước ngôi nhà thiêng liêng đã chứng kiến một sự kiện lịch sử đau thương của dân tộc, trong lời kể chuyện thì thầm như nghẹn ngào của anh thuyết minh viên, tôi nhìn thấy rõ ràng bóng Bác ngồi im bên bàn viết giữa gian phòng lạnh vắng, tôi nghe thấy rõ ràng tiếng radô bật to hơn mức cần thiết đang phát một bài dân ca lay thức không gian cô quạnh... Vì sao ai đó không để yên cho Bác làm việc? Mở như thế sẽ ảnh hưởng đến việc Bác đang làm mất? Không đâu, ai ơi đừng tắt, Bác mở đấy, Bác không muốn ai tắt đâu, Bác cứ mở đều đều giọng dân ca vẳng ra từ chiếc máy phát khi màn đêm buông xuống quanh nơi Bác đang ngồi, quanh ngôi nhà to mà quạnh quẽ, Bác mở đấy, vì ...”Bác muốn nơi đây có tiếng người!”. Trước nhà 54, tôi cũng đã nhìn thấy rõ ràng, không phải vị Chủ tịch nước đáng kính, mà là một ông cụ đã già, đã đến lúc cần một tiếng bi bô gọi “ông” của trẻ thơ, đã đến lúc chiều chiều quây quần bên mâm cơm sum họp gia đình...Vậy mà, ông cụ ngồi đó, áo bà ba nâu chòm râu trắng bạc, lặng lẽ gắp, lặng lẽ nuốt, lặng lẽ... ăn cơm một mình!...1 đôi đũa, 1 cái chén, một cái muỗng con, vì sao? Có ai để Bác cùng chia sẻ mâm cơm chiều, có ai? Bác không gia đình!... Bác Hồ ơi. Tiếng con nghẹn lại, không dám khóc. Nấc trong bàn tay mà sợ ai đó chê cười, con kính Bác vì thế giới và cả dân tộc kính Bác, con thờ Bác trong tim vì sự vĩ đại của Bác, nay, con thương Bác xót xa vì Bác của con, ừ thì, chỉ là người bình thường, Bác ơi Bác cũng vẫn là một ông già bình thường, không gia đình!... Phải chăng Bác không muốn được chia sẻ mâm cơm chiều, phải chăng vì mãi lo nghĩ việc nước việc nhà, Bác quên mất cái cảm giác được ăn cơm bên người thân? Phải chăng với những bậc vĩ đại thì một bữa ăn không đáng để bận lòng vì nỗi nhớ? Không, nếu thế, Bác đã không âm thầm vui rồi âm thầm xúc động khi các anh các chú chia đều thời gian riêng của mỗi người ra để sắp xếp ăn cơm chung với Bác, nếu thế thì mỗi bữa ăn có người bên cạnh ấy Bác đã không ăn thêm được nhiều hơn những bữa cơm lặng lẽ một mình. Bác của con ơi, con sinh ra ngày Bác đã xa, nhưng nay được tìm về bên dáng Bác, hai trái tim của hai thế hệ như không hề khoảng cách, Bác của con ơi, con biết nỗi nhớ gia đình trong Người còn mãnh liệt hơn bất kì ai khác, nhưng, sao đành nghĩ đến “sum họp gia đình” khi chữ S đất Việt còn bị chia đôi??? Ở những nơi đó tôi đã nhìn thấy, đã nghe thấy, đã khóc, không phải bằng đôi mắt và đôi tai, không phải bằng giọt nước mắt hay tiếng nấc nghẹn, mà chính bằng tiếng nói đã nằm sâu trong đáy lòng tự thuở nào nay mới chịu bật lên, tiếng nói cội nguồn, tiếng nói dân tộc, tiếng nói của trái tim biết yêu thương!
Sáng nay con về thăm nơi Bác
Nơi Bác nằm yên, tay không buông
Hàng tre trong thơ, kìa! Xanh ngắt…
Vội vã con đi, nước mắt tuôn!
Sáng nay con về thăm nơi Bác
Nơi Bác ngồi bên mâm cơm suông
Con thấy ông già, đâu Chủ tịch?
Lặng lẽ Người ơi, bóng một mình!
Sáng nay con về chân bước run
Ao cá còn đây, nước mông lung
Ồ! Dáng “bụt mọc” thơ Tố Hữu
Kia! Vườn xoài nở, trắng hoa buông
Sáng nay con về, giữa ngàn muôn
Như tình thơ cũ vẫn đọc luôn
Hút trong mắt nhỏ không gian lớn
Cảnh lạ, mà quen! Ngút yêu thương…
Sáng nay con về, xin khóc muộn
Kể chuyện Bác hay, hóa kể suông
Nay mắt trân nhìn, lòng con rõ:
Chuyện kể rằng hay, thực hóa buồn…
Sáng nay con về, nghe vấn vương
Thấy Người đứng đó, trời mưa tuôn…
Lom khom chống gậy, quần cao thấp
Chầm chậm Người ơi… kẻo ống buông!
Ao cá thì to, mưa cứ tuôn
Con sợ ô mỏng bé cỏn con
Bốn kẻ dâng cơm, Người đâu muốn
“Để mình Bác sang, nhọc chút thôi!”
Sáng nay con về, Bác đâu rồi?
Phải chăng nơi đó, Người đang ngồi
Việc nước luôn tay, dòng đang vội
Mà sao to thế, tiếng “ra- dô”?
“Ai đó tắt đài nhé, Bác ơi!
Bác viết xong rồi, còn nghỉ ngơi?”
Giật mình. Im ắng! Đừng, đừng tắt…
Cháu ạ, nơi đây… vắng tiếng người!
Sáng nay con khóc, thật, Bác ơi!
Thương lắm, cụ già trong giấc mơ
Nay đứng đây rồi, Người hiện hữu
Tiếng lòng con, mà tưởng tiếng thơ…
Biên Hòa, tháng 9 năm 2009
HẠ THI
Sáng nay con về thăm nơi Bác
Nơi Bác nằm yên, tay không buông
Hàng tre trong thơ, kìa! Xanh ngắt…
Vội vã con đi, nước mắt tuôn!
Sáng nay con về thăm nơi Bác
Nơi Bác ngồi bên mâm cơm suông
Con thấy ông già, đâu Chủ tịch?
Lặng lẽ Người ơi, bóng một mình!
Sáng nay con về chân bước run
Ao cá còn đây, nước mông lung
Ồ! Dáng “bụt mọc” thơ Tố Hữu
Kia! Vườn xoài nở, trắng hoa buông
Sáng nay con về, giữa ngàn muôn
Như tình thơ cũ vẫn đọc luôn
Hút trong mắt nhỏ không gian lớn
Cảnh lạ, mà quen! Ngút yêu thương…
Sáng nay con về, xin khóc muộn
Kể chuyện Bác hay, hóa kể suông
Nay mắt trân nhìn, lòng con rõ:
Chuyện kể rằng hay, thực hóa buồn…
Sáng nay con về, nghe vấn vương
Thấy Người đứng đó, trời mưa tuôn…
Lom khom chống gậy, quần cao thấp
Chầm chậm Người ơi… kẻo ống buông!
Ao cá thì to, mưa cứ tuôn
Con sợ ô mỏng bé cỏn con
Bốn kẻ dâng cơm, Người đâu muốn
“Để mình Bác sang, nhọc chút thôi!”
Sáng nay con về, Bác đâu rồi?
Phải chăng nơi đó, Người đang ngồi
Việc nước luôn tay, dòng đang vội
Mà sao to thế, tiếng “ra- dô”?
“Ai đó tắt đài nhé, Bác ơi!
Bác viết xong rồi, còn nghỉ ngơi?”
Giật mình. Im ắng! Đừng, đừng tắt…
Cháu ạ, nơi đây… vắng tiếng người!
Sáng nay con khóc, thật, Bác ơi!
Thương lắm, cụ già trong giấc mơ
Nay đứng đây rồi, Người hiện hữu
Tiếng lòng con, mà tưởng tiếng thơ…
Biên Hòa, tháng 9 năm 2009
HẠ THI
Như cánh Vạc bay
Thói quen nghe nhạc Trịnh, nhấm nháp vị đắng của ly café cuối tuần vẫn luôn tồn tại đâu đó, nhất là những buổi trời mưa, cái lắng đọng, cái thấm thía càng rõ rệt. Không gian tĩnh là chiếc nôi nuôi cảm xúc âm nhạc Trịnh Công Sơn lớn dần trong những trái tim ưa trầm mặc. Tôi biết hát nhạc Trịnh từ năm 16 tuổi, nhưng bắt đầu biết cảm nhận thì phải đợi lỡ dỡ vài ba cuộc tình…
Lần đầu tiên cất tiếng hát, giai điệu tự nhiên tuôn nơi đầu môi mà chính tôi cũng không nhớ mình biết đến nó tự bao giờ! Tiếng ghi – ta thùng chảy theo dòng cảm xúc ngây ngô của đôi tim mới lớn, cuốn vào trong những tình cảm chớm nở thuở chưa biết đau thương. Bóng hồng trong ca khúc thật đẹp, nét đẹp “Hoa ghen liễu hờn” của Kiều với ngôn ngữ khuôn sáo mang tính ước lệ đậm nét. “Nắng có hồng bằng đôi môi em, mưa có buồn bằng đôi mắt em…?”
Giai điệu mới cất lên mà như đã quen lâu vì nó mang đậm chất Trịnh, lột tả phần hồn của từng câu chữ trong ca từ. Không một lần khen người tình bằng chữ “đẹp”, chữ “xinh”, mà với cái cách thổi tình cảm con người vào thiên nhiên cho ta hình dung rõ nét diễm kiều đến xao lòng người: “Gió sẽ mừng vì tóc em bay, cho mây hờn ngủ quên trên vai, vai em gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi…..” Gió mừng và mây hờn hay chính tác giả đã buồn đã vui, đã cuốn theo những cảm xúc xoay vần?... Xa những cảm xúc trong trẻo thuở nào, tôi dần quên những giai điệu dìu dặt, quên dần cách hát mộc mạc đều đều với tiếng ghi – ta thùng. Một ngày, tôi cầm chiếc micro, giữa không gian trầm lắng một tối cuối thu, cất giọng ngân nga: “Nắng có hồng…” bỗng giật mình nhìn thấy từng lời tuôn ra khe khẽ, chầm chậm, nắn nót…
Dường như có chút gì mênh mông man mác trong lòng tôi bật ra theo giai điệu, mắt tôi hút vào một ánh nhìn sâu thăm thẳm, tình yêu ngập tràn, đẹp mà sâu… Kẻ đồng hành ngày xưa cùng chiếc ghi-ta thùng đã rẽ sang hướng khác, người cùng đi chung với tôi một con đường là ánh mắt dìu dịu kia đang nhìn! Dẫu vậy, nghe vẫn cồn cào chút âm điệu xưa trong dạ… “Nắng có còn hờn ghen môi em, mưa có còn buồn trong mắt trong?...” Điệu tính bỗng đổi sang trưởng, câu hỏi của ông Trịnh sao nghe như thể đang tìm lại nét kiều diễm xưa, như đau đáu …còn không? Thưa người, giờ đây nét thơ ngây trong trẻo đã loang chút màu suy niệm, nét diễm kiều có thêm chút trải nghiệm đã hóa vị mặn mà, chắc vì vậy mà tôi không thể tuôn hời hợt cái quỹ đạo giai điệu này như xưa nữa, mà phải chầm chậm, nắn nót như lời hứa, lời thề nguyền! Nghe như tiếng người xưa đang oán trách: “Từ lúc đưa em về, là biết…xa ngàn trùng!”
Phải, người đã đẩy thuyền tôi ra xa con sóng năm nào, người đã tự đi tìm bến bờ đẹp, khi mà mắt tôi còn chưa hiểu hết ý nghĩa những giọt lệ…và vì thế người đã đưa tôi về đây, bình yên, không vướng bận. Xin cảm ơn người! Ánh mắt kia sẽ theo tôi suốt chặng đường còn lại, tôi nguyện chìm lắng, ngủ vùi vào bể sóng lung linh ấy, dẫu tôi biết con sóng sẽ chẳng phải êm đềm… “Suối đón từng bàn chân em qua, lá hát từ bàn tay thơm tho, lá khô vì đợi chờ, cũng như đời người mãi âm u…” Với tôi, người xưa đã thôi đợi chờ. Vậy thì tại sao đang sáng lên một nét trưởng trong xanh cùng câu hỏi mở, lại buồn bã trở về điệu thứ, nghe hiu hắt, mênh mang, cũng như buổi xế chiều nối ngày và đêm, đưa màu vàng vọt của hoàng hôn thổi vào ánh nắng đang rạng ngời. Phải chăng ca khúc muốn rót vào tôi một điềm báo mơ hồ cho niềm tin trong lành nơi tình yêu trong tôi? Tôi đã nguyện ngủ vùi trong bể sóng tình sâu thẳm nơi ánh mắt kia, có ngủ yên…?
Hai năm rồi tôi không trở lại phòng trà xưa, tối nay sao người lại lái xe đưa trở về. Hai trái tim vẫn trao đổi cùng nhau 1 lời nói, mắt người vẫn nhìn tôi xa xăm, gửi gắm, thế mà, bên cạnh chúng tôi giờ đây đã có thêm vài ba ánh mắt lạ. Chấp nhận! Không oán than. Tôi lại cầm micro đưa lên môi ngân nga: “Nắng có hồng…” Đến phút giây này, tôi biết. Môi đã nhạt hơn nắng, mắt …vẫn buồn hơn mưa! Đâu đó tiếng người xưa bên cây đàn ghi – ta thì thầm: “Nơi em về ngày vui không em? Nơi em về trời xanh không em?” Khen cho ông Trịnh khéo trêu ngươi, bày chi câu hỏi chua cay, nghe như kiểu mỉa mai, nhạo báng… Người xưa đã cập bến yên vui, còn dõi theo chi con thuyền giữa sóng đời bão tố để nay nhìn tôi cất tiếng cười ngạo nghễ… Nơi em về, ngày vẫn vui và trời vẫn trong xanh, dẫu dấu trong tim là vết dao sắc nhọn, rỉ máu…
Người đâm vào tim tôi, chính là tự đâm vào tim người. Tôi hiểu, vết đau tim người còn sâu và rộng hơn vết đau người để lại nơi tim tôi. Xin Người hãy cất bớt giùm tôi thứ nồng nàn trong ánh mắt cũ, vì ngày mai đây, môi người sẽ đặt nụ hôn lên một đôi môi lạ, dù thấy vị có hờ hững, có đắng cay, thì môi tôi vẫn cứ nhạt hơn nắng mất rồi… Lạ lẫm, dò dẫm trong chính những ca từ quen thuộc, tim tôi đau đớn mở ra đón nhận cảm xúc mới, lời ca tôi muốn buông lơi mà sao tuôn ra lại cứ nghẹn ngào… “Ta nghe nghìn giọt lệ, rớt xuống đời làm sóng lênh đênh…" Người thì thầm: “Anh muốn tặng em 1 cái hôn trên sân khấu. Em hát đi” Tôi thì thầm: “Ngày xưa như cánh vạc bay là của riêng em, nay em tặng lại cho anh, riêng anh, dù ta sẽ không bao giờ được ở chung 1 nhà…”
Tôi vẫn thường hát “Như cánh vạc bay” trong nhiều không gian khác nhau, nhưng chưa một lần trở lại phòng trà xưa. Mỗi khi cất lên, dù không còn ánh mắt nào nồng nàn, gửi gắm, tôi vẫn biết tim người đang nối cùng tim tôi 1 nhịp. Lời hát giờ đây thấm thía, ngọt ngào của một trãi nghiệm; mặn mà của nỗi nhớ không còn da diết thiết tha, mà sâu và lắng một niềm tin. Tôi vẫn đợi người!
Lần đầu tiên cất tiếng hát, giai điệu tự nhiên tuôn nơi đầu môi mà chính tôi cũng không nhớ mình biết đến nó tự bao giờ! Tiếng ghi – ta thùng chảy theo dòng cảm xúc ngây ngô của đôi tim mới lớn, cuốn vào trong những tình cảm chớm nở thuở chưa biết đau thương. Bóng hồng trong ca khúc thật đẹp, nét đẹp “Hoa ghen liễu hờn” của Kiều với ngôn ngữ khuôn sáo mang tính ước lệ đậm nét. “Nắng có hồng bằng đôi môi em, mưa có buồn bằng đôi mắt em…?”
Giai điệu mới cất lên mà như đã quen lâu vì nó mang đậm chất Trịnh, lột tả phần hồn của từng câu chữ trong ca từ. Không một lần khen người tình bằng chữ “đẹp”, chữ “xinh”, mà với cái cách thổi tình cảm con người vào thiên nhiên cho ta hình dung rõ nét diễm kiều đến xao lòng người: “Gió sẽ mừng vì tóc em bay, cho mây hờn ngủ quên trên vai, vai em gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi…..” Gió mừng và mây hờn hay chính tác giả đã buồn đã vui, đã cuốn theo những cảm xúc xoay vần?... Xa những cảm xúc trong trẻo thuở nào, tôi dần quên những giai điệu dìu dặt, quên dần cách hát mộc mạc đều đều với tiếng ghi – ta thùng. Một ngày, tôi cầm chiếc micro, giữa không gian trầm lắng một tối cuối thu, cất giọng ngân nga: “Nắng có hồng…” bỗng giật mình nhìn thấy từng lời tuôn ra khe khẽ, chầm chậm, nắn nót…
Dường như có chút gì mênh mông man mác trong lòng tôi bật ra theo giai điệu, mắt tôi hút vào một ánh nhìn sâu thăm thẳm, tình yêu ngập tràn, đẹp mà sâu… Kẻ đồng hành ngày xưa cùng chiếc ghi-ta thùng đã rẽ sang hướng khác, người cùng đi chung với tôi một con đường là ánh mắt dìu dịu kia đang nhìn! Dẫu vậy, nghe vẫn cồn cào chút âm điệu xưa trong dạ… “Nắng có còn hờn ghen môi em, mưa có còn buồn trong mắt trong?...” Điệu tính bỗng đổi sang trưởng, câu hỏi của ông Trịnh sao nghe như thể đang tìm lại nét kiều diễm xưa, như đau đáu …còn không? Thưa người, giờ đây nét thơ ngây trong trẻo đã loang chút màu suy niệm, nét diễm kiều có thêm chút trải nghiệm đã hóa vị mặn mà, chắc vì vậy mà tôi không thể tuôn hời hợt cái quỹ đạo giai điệu này như xưa nữa, mà phải chầm chậm, nắn nót như lời hứa, lời thề nguyền! Nghe như tiếng người xưa đang oán trách: “Từ lúc đưa em về, là biết…xa ngàn trùng!”
Phải, người đã đẩy thuyền tôi ra xa con sóng năm nào, người đã tự đi tìm bến bờ đẹp, khi mà mắt tôi còn chưa hiểu hết ý nghĩa những giọt lệ…và vì thế người đã đưa tôi về đây, bình yên, không vướng bận. Xin cảm ơn người! Ánh mắt kia sẽ theo tôi suốt chặng đường còn lại, tôi nguyện chìm lắng, ngủ vùi vào bể sóng lung linh ấy, dẫu tôi biết con sóng sẽ chẳng phải êm đềm… “Suối đón từng bàn chân em qua, lá hát từ bàn tay thơm tho, lá khô vì đợi chờ, cũng như đời người mãi âm u…” Với tôi, người xưa đã thôi đợi chờ. Vậy thì tại sao đang sáng lên một nét trưởng trong xanh cùng câu hỏi mở, lại buồn bã trở về điệu thứ, nghe hiu hắt, mênh mang, cũng như buổi xế chiều nối ngày và đêm, đưa màu vàng vọt của hoàng hôn thổi vào ánh nắng đang rạng ngời. Phải chăng ca khúc muốn rót vào tôi một điềm báo mơ hồ cho niềm tin trong lành nơi tình yêu trong tôi? Tôi đã nguyện ngủ vùi trong bể sóng tình sâu thẳm nơi ánh mắt kia, có ngủ yên…?
Hai năm rồi tôi không trở lại phòng trà xưa, tối nay sao người lại lái xe đưa trở về. Hai trái tim vẫn trao đổi cùng nhau 1 lời nói, mắt người vẫn nhìn tôi xa xăm, gửi gắm, thế mà, bên cạnh chúng tôi giờ đây đã có thêm vài ba ánh mắt lạ. Chấp nhận! Không oán than. Tôi lại cầm micro đưa lên môi ngân nga: “Nắng có hồng…” Đến phút giây này, tôi biết. Môi đã nhạt hơn nắng, mắt …vẫn buồn hơn mưa! Đâu đó tiếng người xưa bên cây đàn ghi – ta thì thầm: “Nơi em về ngày vui không em? Nơi em về trời xanh không em?” Khen cho ông Trịnh khéo trêu ngươi, bày chi câu hỏi chua cay, nghe như kiểu mỉa mai, nhạo báng… Người xưa đã cập bến yên vui, còn dõi theo chi con thuyền giữa sóng đời bão tố để nay nhìn tôi cất tiếng cười ngạo nghễ… Nơi em về, ngày vẫn vui và trời vẫn trong xanh, dẫu dấu trong tim là vết dao sắc nhọn, rỉ máu…
Người đâm vào tim tôi, chính là tự đâm vào tim người. Tôi hiểu, vết đau tim người còn sâu và rộng hơn vết đau người để lại nơi tim tôi. Xin Người hãy cất bớt giùm tôi thứ nồng nàn trong ánh mắt cũ, vì ngày mai đây, môi người sẽ đặt nụ hôn lên một đôi môi lạ, dù thấy vị có hờ hững, có đắng cay, thì môi tôi vẫn cứ nhạt hơn nắng mất rồi… Lạ lẫm, dò dẫm trong chính những ca từ quen thuộc, tim tôi đau đớn mở ra đón nhận cảm xúc mới, lời ca tôi muốn buông lơi mà sao tuôn ra lại cứ nghẹn ngào… “Ta nghe nghìn giọt lệ, rớt xuống đời làm sóng lênh đênh…" Người thì thầm: “Anh muốn tặng em 1 cái hôn trên sân khấu. Em hát đi” Tôi thì thầm: “Ngày xưa như cánh vạc bay là của riêng em, nay em tặng lại cho anh, riêng anh, dù ta sẽ không bao giờ được ở chung 1 nhà…”
Tôi vẫn thường hát “Như cánh vạc bay” trong nhiều không gian khác nhau, nhưng chưa một lần trở lại phòng trà xưa. Mỗi khi cất lên, dù không còn ánh mắt nào nồng nàn, gửi gắm, tôi vẫn biết tim người đang nối cùng tim tôi 1 nhịp. Lời hát giờ đây thấm thía, ngọt ngào của một trãi nghiệm; mặn mà của nỗi nhớ không còn da diết thiết tha, mà sâu và lắng một niềm tin. Tôi vẫn đợi người!
13 thg 9, 2009
Tôi kể chuyện Bác Hồ
Tôi kể chuyện Bác Hồ, thuyết trình về Những lời Bác dạy Thanh niên, đạt được những giải thưởng đáng kể, tưởng đã gọi là “có chút kiến thức”, đã hiểu, đã cảm, đã thương Bác, kính Bác thật tấm lòng, đâu ngờ những cảm xúc đó xem ra còn rất hời hợt, sách vở khi giờ đây so sánh với những gì đang tràn ngập trong lòng tôi, sau chuyến xuyên Việt theo chân Bác vừa qua.
Cái cảm giác đầu tiên là tận hưởng niềm vui của sự may mắn đem lại, may mắn vì được một chuyến đi giá trị mà ít người có được, may mắn vì chuyến học tập mà cúng là “du lịch” về những miền Đất nước thương yêu mà tôi chưa từng đặt chân, may mắn vì tôi đang cần 1 chuyến đi... Khi đến điểm đầu tiên, niềm vui đó trở thành sự háo hức phập phồng trong lòng ngực như muốn bung ra ngoài, tôi say mê với chiếc máy ảnh, bấm tất cả những góc độ mà tôi cho là “giá trị”, ghi âm tất cả những lời hướng dẫn viên nói, tranh thủ tạo dáng mấy kiểu để có cái “khoe” với người ở nhà những nơi đã được đặt chân...
Nhưng, tất cả những niềm vui, háo hức đó hóa ra chỉ là những cảm xúc tầm thường khi trái tim tôi bắt đầu đón nhận những cảm xúc mới, thật hơn tất cả những cảm xúc tôi đã từng trải qua: nỗi thương và nhớ cụ già! Mảnh đất này đây, bạn ơi, Bác đã từng đứng, nói chuyện, học hành, suy tư về vận mệnh nước nhà, chiếc ghế dài này đây, chiếc bảng đen này đây, và kia bộ trường kỉ người thầy .... đã dạy.
Khi bắt đầu nhận ra cái cảm xúc thật thiêng liêng ấy, tôi tưởng mình không còn là cô gái dạn dĩ năng động, với cách nhìn sự việc cứng rắn, thực tế thường có, bởi giờ đây, cổ họng tôi cứ hay bị nghẹn nghẹn, mắt tôi cứ chực rơi rớt những giọt lệ xót xót dưới vành mi...vậy là, tôi không dám khóc, vì sợ tiếng giả tạo, vì sợ không thực với lòng mình! Lúc đó, đứng trước ngôi nhà thiêng liêng đã chứng kiến một sự kiện lịch sử đau thương của dân tộc, trong lời chuyện kể thì thầm như nghẹn ngào của anh thuyết minh viên, tôi nhìn thấy rõ ràng bóng Bác ngồi im bên bàn viết giữa gian phòng lạnh vắng, tôi nghe thấy rõ ràng tiếng radô bật to hơn mức cần thiết đang phát một bài dân ca xé tan không gian cô quạnh... vì sao ai đó không để yên cho Bác làm việc?
Mở như thế sẽ ảnh hưởng đến việc Bác đang làm mất? Không đâu, ai ơi đừng tắt, Bác mở đấy, Bác không muốn ai tắt cả, Bác cử mở đều đều giọng dân ca vẳng ra từ chiếc máy phát khi màn đêm buông xuống quanh nơi Bác đang ngồi, quanh ngôi nhà to mà quạnh quẽ, Bác mở đấy, vì ...”Bác muốn nơi đây có tiếng người!”. Trước nhà 54, tôi cũng đã nhìn thấy rõ ràng, không phải vị chủ tịch nước đáng kính, mà là một ông cụ đã già, đã đến lúc cần đến một tiếng bi bô gọi “ông” của trẻ thơ, đã đến lúc chiều chiều quây quần bên mâm cơm sum họp gia đình...Vậy mà, ông cụ ngồi đó, áo bà ba nâu chòm râu trắng bạc, lặng lẽ gắp, lặng lẽ nuốt, lặng lẽ... ăn cơm một mình!...1 đôi đũa, 1 cái chén, một cái muỗng con, vì sao. Có ai để Bác cùng chia sẻ mâm cơm chiều, có ai? Bác không gia đình!... Bác Hồ ơi. Tiếng con nghẹn lại, không dám khóc.
Nấc trong bàn tay mà sợ ai đó chê cười, con kính Bác vì thế giới và cả dân tộc kính Bác, con thờ Bác trong tim vì sự vĩ đại của Bác, nay, con thương Bác xót xa vì Bác của con, ừ thì, chỉ là người bình thường, Bác ơi Bác chỉ là một ông già bình thường, không gia đình!...
Sao đành nghĩ đến “sum họp gia đình” khi chữ S đất việt còn bị chia đôi??? Ở những nơi đó tôi đã nhìn thấy, đã nghe thấy, đã khóc, không phải bằng đôi mắt và đôi tai, không phải bằng giọt nước mắt hay tiếng nấc nghẹn, mà chính bằng tiếng nói đã nằm sâu trong đáy lòng tự thuở nào nay mới chịu bật lên, tiếng nói cội nguồn, tiếng nói dân tộc, tiếng nói của trái tim biết yêu thương!
- Sáng nay con về thăm nơi Bác
Nơi Bác nằm yên, tay không buông
Hàng tre trong thơ, kìa! Xanh ngắt…
Vội vã con đi, nước mắt tuôn!
- Sáng nay con về thăm nơi Bác
Nơi Bác ngồi bên mâm cơm suôn
Con thấy ông già, đâu Chủ tịch?
Lặng lẽ Người ơi, bóng một mình!
- Sáng nay con về chân bước run
Ao cá còn đây, nước mông lung
Ồ! Dáng “bụt mọc” thơ Tố Hữu
Kia! Vườn xoài nở, trắng hoa buông
- Sáng nay con về, giữa ngàn muôn
Như tình thơ cũ vẫn đọc luôn
Hút trong mắt nhỏ không gian lớn
Cảnh lạ, mà quen! Ngút yêu thương…
- Sáng nay con về, xin khóc muộn
Kể chuyện Bác hay, hóa kể suôn
Nay đứng đây nhìn, lòng con rõ:
Chuyện kể rằng hay, thực mới buồn…
- Sáng nay con về, nghe vấn vương
Thấy người đứng đó, trời mưa tuôn…
Lom khom chống gậy, quần cao thấp
Chầm chậm Người ơi… kẻo ống buông!
Ao cá thì to, mưa cứ tuôn
Bác che ô mỏng bé cỏn con
Bốn kẻ dâng cơm, người đâu muốn
“Mình Bác sang, chỉ nhọc chút thôi!”
- Sáng nay con về, Bác đâu rồi?
Phải chăng nơi đó, Người đang ngồi
Việc nước luôn tay, dòng đang vội
Mà sao to thế, tiếng “Ra- dô”?
Ai đó tắt đài nhé, Bác ơi!
Bác viết xong, còn phải nghỉ ngơi.
Giật mình. Im ắng! Đừng, đừng tắt…
Cháu ạ, nơi đây… vắng tiếng người!
- Sáng nay cháu khóc, thật, Bác ơi!!!
Thương lắm, cụ già trong giấc mơ
Nay đứng đây rồi, Người hiện hữu
Tiếng lòng con, mà tưởng tiếng thơ…
Cái cảm giác đầu tiên là tận hưởng niềm vui của sự may mắn đem lại, may mắn vì được một chuyến đi giá trị mà ít người có được, may mắn vì chuyến học tập mà cúng là “du lịch” về những miền Đất nước thương yêu mà tôi chưa từng đặt chân, may mắn vì tôi đang cần 1 chuyến đi... Khi đến điểm đầu tiên, niềm vui đó trở thành sự háo hức phập phồng trong lòng ngực như muốn bung ra ngoài, tôi say mê với chiếc máy ảnh, bấm tất cả những góc độ mà tôi cho là “giá trị”, ghi âm tất cả những lời hướng dẫn viên nói, tranh thủ tạo dáng mấy kiểu để có cái “khoe” với người ở nhà những nơi đã được đặt chân...
Nhưng, tất cả những niềm vui, háo hức đó hóa ra chỉ là những cảm xúc tầm thường khi trái tim tôi bắt đầu đón nhận những cảm xúc mới, thật hơn tất cả những cảm xúc tôi đã từng trải qua: nỗi thương và nhớ cụ già! Mảnh đất này đây, bạn ơi, Bác đã từng đứng, nói chuyện, học hành, suy tư về vận mệnh nước nhà, chiếc ghế dài này đây, chiếc bảng đen này đây, và kia bộ trường kỉ người thầy .... đã dạy.
Khi bắt đầu nhận ra cái cảm xúc thật thiêng liêng ấy, tôi tưởng mình không còn là cô gái dạn dĩ năng động, với cách nhìn sự việc cứng rắn, thực tế thường có, bởi giờ đây, cổ họng tôi cứ hay bị nghẹn nghẹn, mắt tôi cứ chực rơi rớt những giọt lệ xót xót dưới vành mi...vậy là, tôi không dám khóc, vì sợ tiếng giả tạo, vì sợ không thực với lòng mình! Lúc đó, đứng trước ngôi nhà thiêng liêng đã chứng kiến một sự kiện lịch sử đau thương của dân tộc, trong lời chuyện kể thì thầm như nghẹn ngào của anh thuyết minh viên, tôi nhìn thấy rõ ràng bóng Bác ngồi im bên bàn viết giữa gian phòng lạnh vắng, tôi nghe thấy rõ ràng tiếng radô bật to hơn mức cần thiết đang phát một bài dân ca xé tan không gian cô quạnh... vì sao ai đó không để yên cho Bác làm việc?
Mở như thế sẽ ảnh hưởng đến việc Bác đang làm mất? Không đâu, ai ơi đừng tắt, Bác mở đấy, Bác không muốn ai tắt cả, Bác cử mở đều đều giọng dân ca vẳng ra từ chiếc máy phát khi màn đêm buông xuống quanh nơi Bác đang ngồi, quanh ngôi nhà to mà quạnh quẽ, Bác mở đấy, vì ...”Bác muốn nơi đây có tiếng người!”. Trước nhà 54, tôi cũng đã nhìn thấy rõ ràng, không phải vị chủ tịch nước đáng kính, mà là một ông cụ đã già, đã đến lúc cần đến một tiếng bi bô gọi “ông” của trẻ thơ, đã đến lúc chiều chiều quây quần bên mâm cơm sum họp gia đình...Vậy mà, ông cụ ngồi đó, áo bà ba nâu chòm râu trắng bạc, lặng lẽ gắp, lặng lẽ nuốt, lặng lẽ... ăn cơm một mình!...1 đôi đũa, 1 cái chén, một cái muỗng con, vì sao. Có ai để Bác cùng chia sẻ mâm cơm chiều, có ai? Bác không gia đình!... Bác Hồ ơi. Tiếng con nghẹn lại, không dám khóc.
Nấc trong bàn tay mà sợ ai đó chê cười, con kính Bác vì thế giới và cả dân tộc kính Bác, con thờ Bác trong tim vì sự vĩ đại của Bác, nay, con thương Bác xót xa vì Bác của con, ừ thì, chỉ là người bình thường, Bác ơi Bác chỉ là một ông già bình thường, không gia đình!...
Sao đành nghĩ đến “sum họp gia đình” khi chữ S đất việt còn bị chia đôi??? Ở những nơi đó tôi đã nhìn thấy, đã nghe thấy, đã khóc, không phải bằng đôi mắt và đôi tai, không phải bằng giọt nước mắt hay tiếng nấc nghẹn, mà chính bằng tiếng nói đã nằm sâu trong đáy lòng tự thuở nào nay mới chịu bật lên, tiếng nói cội nguồn, tiếng nói dân tộc, tiếng nói của trái tim biết yêu thương!
- Sáng nay con về thăm nơi Bác
Nơi Bác nằm yên, tay không buông
Hàng tre trong thơ, kìa! Xanh ngắt…
Vội vã con đi, nước mắt tuôn!
- Sáng nay con về thăm nơi Bác
Nơi Bác ngồi bên mâm cơm suôn
Con thấy ông già, đâu Chủ tịch?
Lặng lẽ Người ơi, bóng một mình!
- Sáng nay con về chân bước run
Ao cá còn đây, nước mông lung
Ồ! Dáng “bụt mọc” thơ Tố Hữu
Kia! Vườn xoài nở, trắng hoa buông
- Sáng nay con về, giữa ngàn muôn
Như tình thơ cũ vẫn đọc luôn
Hút trong mắt nhỏ không gian lớn
Cảnh lạ, mà quen! Ngút yêu thương…
- Sáng nay con về, xin khóc muộn
Kể chuyện Bác hay, hóa kể suôn
Nay đứng đây nhìn, lòng con rõ:
Chuyện kể rằng hay, thực mới buồn…
- Sáng nay con về, nghe vấn vương
Thấy người đứng đó, trời mưa tuôn…
Lom khom chống gậy, quần cao thấp
Chầm chậm Người ơi… kẻo ống buông!
Ao cá thì to, mưa cứ tuôn
Bác che ô mỏng bé cỏn con
Bốn kẻ dâng cơm, người đâu muốn
“Mình Bác sang, chỉ nhọc chút thôi!”
- Sáng nay con về, Bác đâu rồi?
Phải chăng nơi đó, Người đang ngồi
Việc nước luôn tay, dòng đang vội
Mà sao to thế, tiếng “Ra- dô”?
Ai đó tắt đài nhé, Bác ơi!
Bác viết xong, còn phải nghỉ ngơi.
Giật mình. Im ắng! Đừng, đừng tắt…
Cháu ạ, nơi đây… vắng tiếng người!
- Sáng nay cháu khóc, thật, Bác ơi!!!
Thương lắm, cụ già trong giấc mơ
Nay đứng đây rồi, Người hiện hữu
Tiếng lòng con, mà tưởng tiếng thơ…
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


